You are here

Thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Những trang tư liệu

Tác giả: 
Fan Fương

Thực hiện Hiệp định Genève, ngày 10/10/1954 bộ đội ta về tiếp quản Hà Nội. Giữa rừng cờ đỏ sao vàng rợp trời, nhân dân Hà Nội với trang phục mới và niềm vui náo nức, tưng bừng tỏa ra các trục đường lớn đón chào đoàn quân chiến thắng - cả bộ binh và cơ giới - đang rầm rập tiến vào 5 cửa ô.

Hòa trong không khí tràn ngập hân hoan, các nhạc sĩ và nghệ sĩ cũng đem nhạc cụ ra các quảng trường và ngã tư lớn cùng với nhân dân đàn hát vang lừng mừng ngày giải phóng. Hình ảnh các NS Nguyễn Văn Quỳ (guitar), Nguyễn Đình Thanh (accordéon - em ruột NS Nguyễn Đình Thi), NS Tu My & Nguyễn Trần Giư (violon) còn tươi rói trong phim Việt Nam trên đường thắng lợi của đạo diễn Liên Xô Carmen.

Từ tháng 7/1954 kẻ địch đã dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ & cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, nhưng khi tiếp quản, rất nhiều nhạc sĩ và nghệ sĩ trong thành Hà Nội (Hà Nội cũ) đã ở lại miền Bắc như các nhạc sĩ: Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, Tạ Tấn, Đoàn Chuẩn, Nguyễn Thiện Tơ, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Quỳ, Tu My, Vũ Nhân, Trịnh Kính, Nguyễn Trần Giư, Đỗ Văn Cách, Ngô Văn Sợi, Nguyễn Quang Khải…& các ca sĩ như: Ngọc Bảo, Thanh Hiếu, Minh Đỗ, Huyền Nga, Thanh Hằng… cùng hàng chục nhạc sĩ, nghệ sĩ ca nhạc & nghệ sĩ các ngành khác.

Từ khi tiếp quản Hà Nội, các nhạc sĩ kháng chiến và nhạc sĩ Hà Nội cũ đã cùng tham gia hăng hái tích cực, đóng góp lớn vào phong trào vận động nếp sống mới, văn hóa mới của thủ đô, giúp đỡ các tổ chức thanh thiếu niên trong các trường học và khu phố, công nhân trẻ trong các nhà máy xí nghiệp, ngoài giờ học và sản xuất được tập những bài hát mới rất hào hứng, thích thú, tạo nên một không khí sinh hoạt tinh thần lành mạnh, sôi nổi.

Tinh thần đoàn kết & hợp tác giữa các nhạc sĩ, nghệ sĩ kháng chiến và Hà Nội cũ rất thân thiết và khăng khít, tạo nên một hình ảnh hòa nhập của toàn giới âm nhạc. Chiều ngày 16/1/1955 (23 tháng chạp năm Giáp Ngọ) một cuộc liên hoan họp mặt tất niên của toàn giới âm nhạc đã được tổ chức tại Âm nhạc học xá - trường của cụ Lưu Quang Duyệt - số 17 Cột cờ (nay là đường Điện Biên Phủ).

Cuộc liên hoan tất niên đó mở đầu cho truyền thống liên hoan cuối năm của Hội Nhạc sĩ Việt Nam sau này.

Ngày 13/5/1955 quân Pháp rút nốt khỏi Hải Phòng, miền Bắc từ sông Bến Hải trở ra hoàn toàn sạch bóng quân thù. Một nửa nước được giải phóng đang bộn bề với những cuộc chuyển đổi lớn về quan hệ sản xuất & phân phối, quan hệ xã hội mới bắt đầu như: cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, cải cách giáo dục & văn hóa tư tưởng, xây dựng con người mới, đấu tranh cho hòa bình thống nhất nước nhà. Cùng với nhiệm vụ tất cả nỗ lực tăng gia sản xuất, chống đói, chống mù chữ, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục mọi hoạt động xã hội… khiến không khí toàn miền Bắc vô cùng sôi động, cả nửa nước như đang chuyển mình vươn dậy, tình hình đó đòi hỏi giới âm nhạc cần có những phương thức hoạt động thay đổi kịp với hoàn cảnh xã hội.

Từ 1945, các nhạc sĩ kháng chiến đã tập hợp và hoạt động trong hai tổ chức:

- Đoàn nhạc sĩ trực thuộc Hội Văn hóa cứu quốc (từ tháng 4/1943 đến tháng 6/1948).

- Ban nhạc vũ trực thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam (từ tháng 7/1948 đến tháng 2/1957).

Nhưng Đoàn nhạc sĩ hoặc Ban nhạc vũ đều chưa phải là tổ chức Hội vì chưa có đại hội và điều lệ, chỉ có nội quy công tác, hoạt động như kiểu một cơ quan phối hợp của nhà nước, tập hợp mọi lực lượng vì mục đích kháng chiến kiến quốc. Tuy nhiên các nhạc sĩ đã thể hiện tinh thần cách mạng, rèn luyện và trưởng thành trong suốt 9 năm kháng chiến, thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của người nghệ sĩ - chiến sĩ được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao.

Tiếp tục phát huy tinh thần đó, trong suốt 2 năm 8 tháng (từ tháng 10/1954 đến tháng 4/1957) trước ngày thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, giới âm nhạc đã rất tích cực thực hiện những nhiệm vụ chính trị và VHNT trong mọi hoạt động sau:

I. SÁNG TÁC:

Để kịp thời phục vụ nhiệm vụ trước mắt, các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bài hát với đề tài phong phú, thể loại đa dạng như:

1.Anh lính miền Nam tổ quốc chờ anhTrần Khánh
2.Ánh sao vàngBùi Huy Khuê
3.Ba Đình lại nắngBùi Công Kỳ
4.Ba lá cờ của ĐảngVăn Chung
5.Bác đã về thủ đôLê Yên
6.Bác Hồ vầng dương của chúng taNguyễn Văn Quỳ
7.Bài ca cách mạng tiến quânĐỗ Nhuận
8.Bài ca Hà NộiXuân Oanh + Đào Anh Kha
9.Bài ca ra thao trườngTrọng Loan
10.Bài ca thanh niênNguyễn Đình Phúc
11.Bài ca trên đồng lúaĐặng Đình Hưng + Bùi Hạnh
12.Bài ca trên đường thống nhấtVăn Chung + Tố Hữu
13.Bánh xe lănTrần Kiết Tường
14.Bao thuốc láNguyễn Xuân Khoát
15.Bới rễ tìm nguồnDoãn Mẫn
16.Ca mừng BácNguyễn Văn Quỳ
17.Cánh đồng của taDoãn Mẫn
18.Câu hò bên bờ Hiền lươngHoàng Hiệp + Đằng Giao
19.Chiếc túi xinh xinhNguyễn Thiện Tơ
20.Chiến thắngNguyễn Xuân Khoát
21.Chiến thắng Điện BiênTử Phác
22.Chiều hồ TâyHồ Bắc
23.Chữ SNguyễn Xuân Khoát
24.Con đường dàiNgô Huỳnh
25.

Con đường thống nhất (tổ khúc)

Tô Vũ + Tạ Phước + Lê Yên + Phạm Văn Chừng + Doãn Mẫn + Đặng Đình Hưng

26.Con thuyền tự doNguyễn Thiện Tơ + Trịnh Kính
27.Cô gái bên sôngNguyên Nhung
28.Cù Chính LanNguyễn Đình Phúc
29.Đào đất đắp nềnTrần Minh
30.Đâu Đảng cần chúng ta có mặtVăn An
31.Đêm nay Bác không ngủVăn Thắng + Minh Huệ
32.Đêm NoelTô Vũ
33.Đêm trăng nhớ miền NamNguyễn Quang Khải
34.Đi ra thao trườngNgô Huỳnh
35.Đoàn kết giữ hòa bìnhNguyễn Văn Quỳ
36.Đoàn người trai mớiVũ Nhân
37.Đoàn quân diệt phong kiếnDoãn Mẫn
38.Đón mùa xuân mớiLưu Cầu
39.Đón ngày vinh quangTrọng Bằng
40.Đôi bờ Áp Lục GiangNguyễn Văn Thưởng
41.Em yêu hòa bình tự doNguyễn Thiện Tơ
42.Gái thôn Đoài trai thôn ThượngVăn Chung + Phạm Huyền
43.Gió trên biển vềVăn Cao
44.Giữ hòa bình     Hoàng Nguyễn 
45.Giữ mãi tuổi xuânHồ Bắc
46.Giữ trọn tình quêVăn Cận
47.Gọi nghé trên đồngDoãn Mẫn
48.Gợi ý mùa trăngTô Vũ
49.Guồng nướcLưu Hữu Phước
50.Gửi người em gáiĐoàn Chuẩn + Từ Linh
51.Gửi tới Bác HồKpa Púi + Tường Vy
52.Hà Nội - Bắc Kinh - Mạc Tư KhoaXuân Oanh
53.Hà Nội giải phóngNguyễn Văn Quỳ
54.Hà Nội 55Từ My
55.Hà Nội yêu dấu (dân ca)Lời: Hoàng Cầm
56.Hát lên bài ca thống nhấtTrần Kiết Tường
57.Hát mừng Mao Chủ tịchLê Huy
58.Hát nữa đi em   Huy Du + Trần Hữu Thung
59.Hãy biến căm thù thành sức mạnhXuân Oanh
60.Hò dân côngDoãn Mẫn
61.Hò đắp đường thống nhấtTạ Phước + Tô Vũ
62.Hò kiến thiếtHoàng Hà
63.Hòa bình trên đất nước taNguyễn Mạnh Thường
64.Hòa bình về với chúng taTạ Phước
65.Hờn căm địa chủ        Tô Vũ
66.Hương quêTrần Hải
67.Khúc ca yêu đờiTô Vũ
68.Liên khu 5 yêu dấuPhan Huỳnh Điểu
69.Lời ca thống nhấtTrần Quý
70.Lời Tổ quốcTô Hải
71.Lời về NamTô Vũ
72.Luyện vững tay súngNgô Huỳnh
73.Lửa căm thù đế quốc MỹCầm Phong
74.Lực lượng ta hùng mạnhHoàng Việt
75.Mau tay đập đấtDoãn Mẫn
76.Mây trôiNguyễn Văn Quỳ
77.Mẹ yêu conNguyễn Văn Tý
78.Mong anh về ca múaTrần Kiết Tường
79.Mùa phá hoangNgọc Thới + Văn Lương
80.Mùa xuân mớiQuan Văn Dũng Văn Lương
81.Mùa xuân trên đất PrahaNguyễn Đình Phúc
82.Muôn năm Hồ Chí MinhTrọng Loan
83.Mừng Bác về thủ đôNguyễn Xuân Khoát
84.Nam Bắc đoàn kết đấu tranhLê Lôi
85.Ngày mai sẽ trở vềThế Dương
86.Ngọn triều lênNguyễn Văn Quỳ
87.Nhắn dòng sông HươngTrần Ngọc Xương
88.Nhắn về miền NamPhạm Văn Chừng
89.Nhân dân xuân khúcTu My
90.Nhìn qua biển rộngHuy Du
91.Nhớ Đảng nhớ BácLưu Hữu Phước
92.Nhớ nhàTô Vũ
93.Những cánh tay miền Nam trên đất Bắc        Trần Kiết Tường
94.Nông dân đòi quyền sống                             Tạ Phước + Thanh Tịnh
95.Nông dân hát mừng hòa bình trở lại               Phạm Ngữ
96.Nông dân vùng dậy đấu tranh                        Chu Minh + Thái Ly 
97.Nỗi băn khoăn của chị Lả                                Nguyễn Đức Toàn
98.Nước chảy một dòng                                       Nguyễn Văn Tý
99.Quê hương                                                        Hồ Bắc
100.Quê hương ta                                                    Lê Yên
101.Quê ta vang mãi bài ca thanh bình                 Bùi Công Kỳ
102.Quê tôi                                                               Lưu Cầu
103.Quê tôi giải phóng                                            Văn Chung
104.tôi giải phóng                                           D.Liên
105.Quê tôi miền Nam                                             Phan Huỳnh Điểu
106.Ruộng về ta                                                       Trần Thụ
107.Sao vàng trong nắng mới                                Nguyễn Quang Khải
108.Sẵn sàng vì quê hương                                   Ngô Huỳnh
109.Sức mạnh dân cày                                           Đặng Đình Hưng
110.Ta đã lớn                                                       Nguyễn Xuân Khoát
111.Tây Bắc đợi chờ                                      Đỗ Nhuận
112.Thanh niên công trường                                  Nguyễn Văn Quỳ
113.Thay trời làm mưa                                            Nguyễn Thị Nhung
114.Thật là khó nói                                                  Phan Huỳnh Điểu
115.Theo bước cha già                                           Ngô Huỳnh
116.Theo ngôi sao sáng                                         Tường Vy
117.Thủ đô thân mến                                              Nguyễn Xuân Khoát
118.Thủ đô vui đón các anh                                   Anh Vũ
119.Tiến lên tin tưởng ở ngày mai                         Lê Lôi
120.Tiến về nông thôn                        Lưu Hữu Phước + Bảo Định Giang
121.Tiến về thành Tô giải phóng                            Nguyễn An
122.Tiếng chim                                                         Lưu Cầu
123.Tiếng chim hòa bình                               Tô Vũ + Tạ Phước + Thế Lữ
124.Tiếng hát chăn trâu                                          Văn Chung
125.Tiếng hát Cửu Long                                         Lưu Hữu Phước
126.Tiếng hát thanh xuân                              Tô Vũ 
127.Tiếng hát trên sông Nậm Na                           Trần Quý 
128.Tình ca                                                               Hoàng Việt 
129.Tình đồng chí                                                    Nguyễn Đình Phúc
130.Tình hữu nghị Việt Xô Trung                           Nguyễn Đình Phúc 
131.Tình trong lá thiếp                                             Phan Huỳnh Điểu
132.Tố khổ                                                                Y Dzơn + Sanh Châu
133.Tổ quốc ta                                                   Lê Yên + Đặng Đình Hưng
134.Tổ quốc tôi trên 10 năm đã lớn                       Hồng Đăng
135.Tội ác Mỹ Diệm                                       Tu My
136.Trung Nam Bắc một nhà                                  Lê Yên
137.Trường tôi                                                          Lưu Hữu Phước
138.Tuần tra mặt biển                                              Huy Thanh 
139.Tuổi 20                                                               Lưu Hữu Phước 
140.Tuổi thanh xuân                                                Huy Du 
141.Từ xưa                                                               Ngô Huỳnh 
142.Về quê ta                                                  Nguyễn Đình Phúc
143.Về thủ đô                                                  Tô Vũ
144.Vui đón hòa bình                                          Hiếu Nam + Công Tương
145.Vui hòa bình trở lại                                            Bùi Công Kỳ 
146.Vui họp bạn                                                       Nguyễn Thiện Tơ
147.Vượt đèo                                                            Nguyễn An
148.Xuân Việt Trung Xô                                          Lưu Hữu Phước

……………………………… và hàng trăm bài nữa.

Về xuất bản: Nhiều tập nhạc trong đó có một số tập nhạc các nước xã hội chủ nghĩa đã được xuất bản, nhưng nhìn chung bài hát sáng tác ra còn tồn đọng rất nhiều, chưa được xuất bản.

Nhận xét của ngành Nhạc, Hội Văn nghệ Việt Nam về các bài hát mới sáng tác:

II. BIỂU DIỄN:

Sau tiếp quản, mọi tụ điểm ăn chơi thời Hà Nội tạm bị chiếm như tiệm nhảy, cô đầu, mại dâm, hút thuốc phiện… đều bị cấm, còn những hoạt động biểu diễn âm nhạc ở các rạp hát, phòng trà, nơi công cộng… các đoàn cải lương, rạp xiếc vẫn hoạt động bình thường, chỉ thay thế những bài hát cũ bằng bài hát cách mạng kháng chiến hoặc bài hát mới.

Để tạo không khí vui tươi cho toàn dân đón mừng ngày Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng từ chiến khu về thủ đô (1/1/1955) Đại hội liên hoan văn công toàn quốc đã được khai mạc ngày 16/12/1954, hàng chục chương trình biểu diễn công cộng đã diễn ra tại Nhà hát lớn và Nhà hát nhân dân (Cung Văn hóa Hữu nghị ngày nay). Được thưởng thức những bài hát, điệu múa đem từ khắp các chiến khu và vùng tự do về, với phong cách biểu diễn thể hiện hoàn toàn mới lạ, nhân dân Hà Nội đều cảm nhận được cái hay cái đẹp và sự lành mạnh trong sinh hoạt văn nghệ cách mạng.

 

Đại hội liên hoan văn công toàn quốc đã thổi một luồng gió mới vào sinh hoạt ca nhạc của Hà Nội mới giải phóng, tác động không nhỏ đến hoạt động văn hóa văn nghệ của thành phố, làm thay đổi phong cách biểu diễn cũ. Các nhạc sĩ và nghệ sĩ Hà Nội cũ cũng nhanh chóng tiếp thu được những tinh hoa trong các điệu múa dân tộc hoặc các bài dân ca, các bài hát mới rất trữ tình nhưng không ủy mị não nề, nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống mới, có những tác phẩm và chương trình biểu diễn kịp thời phục vụ nhân dân.

Tham gia hoạt động biểu diễn trong thời kỳ này, về phía các đoàn nhà nước có:

- Đoàn ca múa nhân dân trung ương do NS Nguyễn Văn Thương làm trưởng đoàn, NS Vũ Lương, Trịnh Kính phụ trách phần nhạc.

- Đoàn ca nhạc Đài tiếng nói Việt Nam do NS Nguyễn Hữu Hiếu làm trưởng đoàn và chỉ huy.

- Ban nhạc kèn nhân dân Trung ương tập hợp những nhạc công của Dàn kèn Trung bộ cũ, do NS Dương Quang Thiện làm trưởng đoàn, NS Nguyễn Hữu Hiệp phụ trách chuyên môn.

- Đoàn quân nhạc do NS Đinh Ngọc Liên chỉ huy.

- Một số Đoàn văn công quân đội của các đại đoàn, quân khu…

- Đội hợp xướng Hòa bình với tư cách một đội hợp xướng quốc gia do NS Lưu Hữu Phước làm đội trưởng, đội viên là các NS: Nguyễn Hữu Hiếu, Thái Thị Liên, Chu Minh, Thương Huyền, Mai Khanh, Phan Phúc… và dàn hợp xướng, ngoài việc biểu diễn còn đi thu thanh chương trình biểu diễn 5 tháng liền ở Thượng Hải.

- Một số ban, nhóm nhạc tự lập của Hà Nội như Gió mới, Lúa vàng, Đoàn ca vũ nhạc Hà Nội với sự tham gia biểu diễn thường xuyên của các tài tử nghệ sĩ của Hà Nội cũ.

Nhóm nhạc

Thanh Hằng, Trịnh Kính, Tu My, Nguyễn Thiện Tơ

Hoạt động biểu diễn của các đoàn nghệ thuật nhà nước và tự lập đã có ảnh hưởng tích cực đến đời sống văn hóa của nhân dân thủ đô thời bấy giờ, được nhân dân Hà Nội đón nhận và yếu mến.

Để thắt chặt tình đoàn kết giao lưu học hỏi các nước bạn, Ban nhạc vũ còn cử một số đoàn đi dự liên hoan âm nhạc hoặc các festival thanh niên, sinh viên thế giới.

III. HUẤN LUYỆN ĐÀO TẠO:

Trước ngày tiếp quản, Hà Nội chỉ có Âm nhạc học xá là trường âm nhạc lớn nhất dạy đủ các môn và nhạc cụ, do nhà giáo - NS Lưu Quang Duyệt làm hiệu trưởng, giáo viên hầu hết là các nhạc sĩ nổi tiếng, chính cụ Lưu Quang Duyệt với trang phục dân tộc áo the hoặc áo lương vẫn trực tiếp tham gia giảng dạy hai môn violon và piano. Trường khá đông học sinh, nhiều nhạc sĩ, nhạc công trẻ trưởng thành từ ngôi trường này. Sau tiếp quản Hà Nội Âm nhạc học xá vẫn được tiếp tục hoạt động.

Cụ Duyệt đang dạy học

Tháng 12/1955 Đoàn ca vũ nhạc Hà Nội mở Trường Âm nhạc phổ thông tại 63 phố Hàng Trống, trên nhật báo Hà Nội lúc đó đã đăng rõ ràng mục đích, nội dung, điều kiện nhập học và danh sách ban giáo viên của ngôi trường mới này:

Về phía nhà nước, sau một thời gian mở các lớp huấn luyện âm nhạc ngắn hạn tại nhà số 3 & 5 phố Cao Bá Quát, Bộ Văn hóa quyết định thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam tại 32 phố Nguyễn Thái Học do NS Tạ Phước làm hiệu trưởng, ông Lã Hữu Quỳnh làm hiệu phó, khóa đầu khai giảng ngày 23/10/1956, mãn khóa ngày 6/7/1957, kết quả học tập được báo cáo bằng một chương trình biểu diễn chững chạc và dầy dặn tại vườn hoa Chí Linh.

Tại Phòng Văn nghệ quân đội, NS Trần Du cũng phụ trách tổ chức các lớp huấn luyện ngắn hạn về thanh nhạc, accordéon, riêng thanh nhạc do chuyên gia Triều Tiên Lý Hoa Anh hướng dẫn.

Phục vụ mục đích huấn luyện đào tạo, các nhạc sĩ cũng biên dịch, biên soạn nhiều sách lý luận và sách dạy nhạc cụ như:

1- Lịch sử âm nhạc cổ điển Nga và âm nhạc Xô Viết  (Tử Phác)

2- Bàn về đặc điểm dân tộc trong âm nhạc (của Nhietschev do Hoàng Vân dịch theo bản Trung văn).

3- Giai điệu và phần đệm (của Tikhomerov, Nguyễn Lương Hồng dịch).

4- Cách viết phần đệm piano cho ca khúc (của Trần Hồng - Trung Quốc, Lê Bích dịch).

5- Cách dạy hát, chỉ huy, tổ chức và huấn luyện một đội đồng ca (của Diệp Lâm - Trung Quốc, Phạm Tuyên dịch).

6- Nhạc lý cơ bản (của Spasobin, Hoàng Hiệp dịch).

7- Tìm hiểu âm nhạc (Hoàng Kiều).

8- Ký âm pháp (Tô Vũ).

9- Ký xướng âm (Tạ Phước).

10- Đồrêmi tự học (Lê Yên).

11- Phương pháp học xướng âm (Doãn Mẫn).

12- Hòa âm thực hành (Lê Yên).

13- Hòa âm áp dụng vào phần đệm (Phạm Ngữ).

14- Cách soạn và kỹ thuật soạn bài hát (Tô Vũ).

15- Hướng dẫn ca hát phổ thông (Phạm Văn Chừng).

16- Phân câu và hình thức âm nhạc (Tạ Phước).

17- Tìm hiểu nhạc giao hưởng và dàn nhạc giao hưởng (Trương Đình  Quang).

18- Phương pháp guitar thực hành (Doãn Mẫn + Lê Yên).

19- Tự học guitar Espagnol (Lê Huy).

20- Những bản nhạc phối cho guitar Espagnol (Tạ Tấn).

21- Guitar Hawaien thực hành (Đoàn Chuẩn).

........................

Để nâng cao trình độ hiểu biết về âm nhạc dân tộc phục vụ mọi hoạt động âm nhạc, Ban nhạc vũ (thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) đã cử các cá nhân hoặc tốp nhạc sĩ đi điền dã, sưu tầm khảo cứu về dân ca các vùng miền như:

- Quan họ Bắc Ninh: Lưu Hữu Phước, Lê Yên, Nguyễn Đăng Hòe.

- Hát dặm Hà Nam: Tân Huyền.

- Hát xoan Phú Thọ: Tú Ngọc.

- Dân ca Nam bộ: Trần Kiết Tường ghi lại các làn điệu.

- Cải lương Nam bộ: Đắc Nhẫn ghi lại, cải biên và nâng cao.

…………………

Tạp chí âm nhạc là cơ quan ngôn luận của Ban nhạc vũ - Hội Văn nghệ Việt Nam, lúc đầu NS Văn Cao làm thư ký tòa soạn, 2 NS Văn Chung và Đặng Đình Hưng là biên tập viên, có cùng trụ sở với Ban nhạc vũ, số 1 và 3 phố Bà Triệu. Ngoài những tin nhạc còn đăng tải nhiều bài khảo cứu có giá trị.

Tuy nhiên hoạt động của tất cả các ngành: sáng tác, biểu diễn và huấn luyện, ngoài một số hoạt động có chỉ đạo của nhà nước vẫn chủ yếu là trên tinh thần tự giác và tự trọng, mạnh ai nấy làm, chưa tập hợp được dưới một tổ chức nghề nghiệp chung để dễ dàng phối hợp nên lực lượng còn rất phân tán, dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa cao như những nhận định của NS Đỗ Nhuận trong bản báo cáo trước hội nghị thành lập Hội Nhạc sĩ sáng tác. Ngoài ra lúc bấy giờ (từ 1956 đến 1958) không khí trong giới VHNT còn bị vẩn đục bởi phong trào Nhân văn Giai phẩm, trước tình hình này, tháng 2/1957 Đại hội văn nghệ toàn quốc đã thành lập Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam, từ đó Hội LHVHNT Việt Nam là cấp trên của tất cả giới văn học, đã khuyến nghị và yêu cầu thành lập ngay các hội nghệ thuật chuyên ngành nên 3 hội đã thành lập trước: Hội Mỹ thuật Việt Nam thành lập ngày 29/3/1957, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập ngày 4/4/1957, Hội Sân khấu thành lập ngày 7/5/1957.

Thực ra ngay từ tháng 5/1956 Hội Văn nghệ Việt Nam đã khuyến khích giới VHNT nên thành lập hội riêng, giới âm nhạc cũng đã chuẩn bị, tưởng là cuối năm 1956 có thể thành lập được, nhưng do không tìm được tiếng nói chung mà 3 ngành sáng tác, biểu diễn và huấn luyện yêu cầu thành lập các hội riêng rẽ cho từng ngành. Do tư tưởng cục bộ, quá đề cao đặc điểm chuyên môn, không nhận thấy sự gắn kết hữu cơ trong toàn giới, nhiều cuộc họp gay gắt suốt 3 tháng, có những ý kiến cực đoan, ví dụ: nếu không có sáng tác thì biểu diễn lấy đâu ra bài, không có biểu diễn thì tác phẩm viết ra chỉ bỏ ngăn kéo, không có huấn luyện thì không có cả sáng tác lẫn biểu diễn…Cuối cùng tháng 4/1957 mới nhất trí được là không thành lập 3 hội, chỉ thành lập 2 hội là: Hội Nhạc sĩ sáng tác, Hội Nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện.

Đầu tháng 5/1957 Ban trù bị thành lập Hội Nhạc sĩ sáng tác Việt Nam ra mắt và ngày 27/5/1957 hội nghị thành lập (chưa gọi là đại hội), Hội Nhạc sĩ sáng tác Việt Nam có 39 đại biểu chính thức họp tại 96 phố Huế, đã bầu ra Ban chấp hành gồm 11 vị, do NS Nguyễn Xuân Khoát làm Chủ tịch, NS Đỗ Nhuận làm Tổng thư ký. Những thông tin này đã được đăng trong quyển Tự hào nửa thế kỷ Hội Nhạc sĩ Việt Nam (xuất bản năm 2007). Ngày 17/6/1957 Hội đã gửi đơn xin phép thành lập và hoạt động lên Bộ Nội vụ.

Thẻ hội viên

Khi Hội Nhạc sĩ sáng tác đã triển khai công tác thì Hội Nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện mới bắt đầu tiến hành công việc bầu Ban trù bị hội nghị thành lập, gồm 23 vị:

1. Phạm Đức Cẩn

2. Trần Du

3. Lưu Quang Duyệt (phó ban)

4. Vũ Tuấn Đức

5. Vũ Thị Hiển

6. Nguyễn Hữu Hiệp

7. Nguyễn Hữu Hiếu (Trưởng ban)

8. Lý Trọng Hưng

9. Đinh Ngọc Liên (phó ban)

10. Phúc Minh

11. Tu My

12. Hùng Phong

13. Lã Hữu Quỳnh

14. Trần Thị Quỳnh

15. Phạm Sửu

16. Minh Tâm

17. Trịnh Văn Tân

18. Dương Quang Thiện

19. Vũ Thịnh

20. Minh Thu

21. Đỗ Tình

22. Lương Ngọc Trác

23. Phạm Ứng

Trong hội nghị thành lập Hội Nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện, NS Nguyễn Hữu Hiếu đã đọc một báo cáo dài về tình hình hoạt động của ngành biểu diễn và huấn luyện, có những khó khăn như sau:

Bản báo cáo còn có đoạn dài về tình hình và thực trạng:

Và kết luận:

Ngày 29/7/1957 Hội nghị bầu ra Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện gồm 19 vị:

1. Ngô Bá Dậu

2. Trần Du

3. Lưu Quang Duyệt

4. Minh Đỗ

5. Vũ Tuấn Đức

6. Nguyễn Trần Giư

7. Nguyễn Hữu Hiệp

8. Nguyễn Hữu Hiếu

9. Lý Trọng Hưng

10. Đinh Ngọc Liên

11. Thái Thị Liên

12. Lã Hữu Quỳnh

13. Phạm Sửu

14. Trịnh Văn Tân

15. Dương Quang Thiện

16. Vũ Thịnh

17. Trần Thụ

18. Phạm Ứng

19. Khánh Vân

NS Nguyễn Hữu Hiếu

 Chủ tịch Hội Nhạc sĩ biểu diễn và huấn luyện Việt Nam

Thẻ hội viên

Ngày 2/12/1957 Hội đã gửi đơn xin phép thành lập và hoạt động lên Bộ Nội vụ.

Ngày 30/12/1957 Bộ Nội vụ ra 2 Nghị định cho phép 2 hội thành lập và hoạt động (đây là 2 bản nghị định gốc):

Chú thích:

Thời 1957:

- Bộ cũng có quyền ra nghị định.

- Đứng đầu một vụ gọi là Giám đốc vụ.

- Cụ Phan Kế Toại là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

- Cụ Phạm Khắc Hòe là Chánh văn phòng kiêm Giám đốc Vụ Dân chính Bộ Nội vụ.

- Vì trụ sở Hội đóng trên đất Hà Nội nên UBHC Hà Nội (nay là UBND) là 1 bên chịu trách nhiệm thi hành nghị định này. Chủ tịch UBHC Hà Nội là bác sĩ Trần Duy Hưng.

- Do sơ suất, nhân viên văn thư đánh lộn số nghị định: Hội xin phép trước thì đánh số sau và ngược lại.

Ngày 31/12/1957 Vụ Pháp chế phủ Thủ tướng đã đăng Công báo:

theo luật, sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo nghị định mới có hiệu lực, có nghĩa là đến 14/1/1958 hai nghị định thành lập Hội mới có giá trị hiệu lực pháp luật. Vì vậy trong năm 2018 có bài báo nào hoặc buổi biểu diễn nào nhân danh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam thì cũng không muộn.

Sau 3 tháng hoạt động, 2 Hội Nhạc sĩ mới thấy việc tách rời nhau là một sai lầm, ngoài ra các hội VHNT đầu ngành đều là hội chính trị - xã hội - nghề nghiệp được nhà nước cấp kinh phí hoạt động, nhưng không thể đủ kinh phí cấp cho 2 Hội Nhạc sĩ được, đồng thời yêu cầu của Ban Văn giáo Trung ương cần phải tinh gọn tổ chức các hội, nên qua đợt chỉnh huấn tháng 1/1958 và sau bài của NS Lưu Hữu Phước Một số sai lầm của giới âm nhạc hiện nay đăng trên báo Văn nghệ tháng 4/1958, hai Hội Nhạc sĩ đã chủ động bàn bạc để sáp nhập, nhưng phải chờ đến tháng 6/1958 sau đợt tổng kết của nhà nước về Vụ Nhân văn Giai phẩm, tháng 8/1958 thì 2 Hội mới chính thức sáp nhập thành Hội Nhạc sĩ Việt Nam và rút gọn 2 Ban chấp hành làm một, NS Nguyễn Hữu Hiếu bổ sung làm Phó Tổng thư ký Hội, như vậy lúc đó lãnh đạo Hội gồm các NS: Chủ tịch Nguyễn Xuân Khoát, Tổng thư ký Đỗ Nhuận, 2 phó Tổng thư ký Lưu Hữu Phước và Nguyễn Hữu Hiếu.

Chủ tịch Nguyễn Xuân Khoát

(47 tuổi)

Tổng thư ký Đỗ Nhuận

(35 tuổi)

Khi sáp nhập, điều lệ mới của Hội như sau:

Trong khoản i điều 4 của bản Điều lệ này vẫn xác định nhiệm vụ của Hội lấy sáng tác là chủ yếu: 

Một tập nhạc mới

Khi sáp nhập, văn phòng Hội chỉ có 5 biên chế, sau Đại hội 2 (1963) văn phòng Hội mới có 9 biên chế, đến năm 1977 văn phòng Hội có số biên chế ăn lương nhà nước như sau:

- Bộ phận lãnh đạo:

1. Tổng thư ký: Đỗ Nhuận

2. Thường vụ thường trực: Văn Ký

- Bộ phận sáng tác:

1. Văn Cao

2. Phan Huỳnh Điểu

3. Đàm Linh

4. Nhật Lai

5. Hoàng Nguyễn

6. Hoàng Vân

7. Nguyễn Đình Tấn

8. Tân Huyền

9. Hồng Đăng

- Bộ phận tạp chí:

1. Vân Đông (thư ký tòa soạn)

2. Vũ Tự Lân (biên tập)

3. Lê Minh Vượng (đánh máy chữ)

4. Quốc Đông (trị sự).

- Bộ phận hành chính

1. Hoàng Thị Nghệ (Trưởng phòng).

2. Nguyễn Quang Điền (Phó phòng).

3. Phạm Thị Nhiễm         (kế toán)

4. Trần Hải (cán sự)

5. Lê Tùng (cán sự)

6. Hoàng Văn Hà (lái xe)

7. Nguyễn Thị Lạc (thư viện)

8. Đàm Thúy Hà (thư viện)

9. Nguyễn Thị Phụng (đánh máy chữ)

10. Phan Phương (kỹ sư âm thanh)

11. Hà Ánh (họa sĩ - chép nhạc)

Suốt 60 năm kể từ năm 1957, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và hơn 40 năm xây dựng hòa bình, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc và ngày một lớn mạnh, đạt nhiều thành tựu ở mọi thể loại và qui mô tác phẩm chất lượng cao, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân, góp phần xây dựng một nền văn học nghệ thuật tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc của nước nhà./.

ĐĂNG BÌNH LUẬN